Bạn đang xem: Trang chủ Điều kiện tự nhiên Điện Biên - Con người

Điện Biên - Con người

1- Các dấu tích cư trú lâu đời:
Theo kết quả nghiên cứu của giới khảo cổ học, Lai Châu là địa bàn có con người đến cư trú từ rất sớm. Tại các địa điểm như hang Thẩm Púa, Thẩm Khương (xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo); Nậm Phé, Nậm Tun (huyện Phong Thổ) đã tìm thấy các công cụ của thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá giữa và đồ đá mới. Đây là những minh chứng cho thấy, hàng vạn năm trước, trên đất Lai Châu đã có những thị tộc, bộ lạc sinh sống trong các hang động đá vôi.
Ngoài ra, còn tìm thấy công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại Hùng Vương như: trống đồng Mường Đăng (Tuần Giáo), trống đồng Mường Thanh, trống đồng Na Ngum (Điện Biên), trống đồng Chiềng Nưa (Mường Lay), trống đồng Mường So (Phong Thổ)... Những phát hiện trên cho thấy, vào thời các vua Hùng dựng nước, ở bộ Tân Hưng, cư dân đã biết luyện kim, chế tác các dụng cụ tinh xảo. Suốt mấy ngàn năm, nhân dân các dân tộc đã khai phá đất đai, xây dựng thôn bản, cùng nhau làm nên những thành quả trong quá trình lao động, gìn giữ quê hương.

2- Dân số và phân bố dân cư:
Khi mới thành lập tỉnh (năm 1909), Lai Châu có khoảng 4 vạn người; năm 1930, có 6,6 vạn người; năm 1936 là 6,7 vạn người; năm 1954 có 8 vạn người. Năm 2003, trước khi chia tách, tỉnh Lai Châu có 743.811 người; sau khi tách, tỉnh Điện Biên có 440.300 người. Tính đến 31-12-2007, dân số của tỉnh Điện Biên là 468.282 người, mật độ dân số bình quân 49 người/km2, là một trong những tỉnh có mật độ dân số thấp nhất cả nước (mật độ dân số trung bình cả nước là 254 người/km2) và thấp hơn nhiều so với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc (69 người/km2). Tuy vậy, dân số phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực Thành phố Điện Biên Phủ (750,9 người/km2), Thị xã Mường Lay (124,1 người/km2) và thưa thớt ở các huyện Mường Nhé (16,3 người/km2); Mường Chà (27,5 người/ km2). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 17,200/00. 

Hiện tại cộng đồng dân cư tỉnh Điện Biên có 21 dân tộc cùng chung sống (Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, La Hủ, Giấy, Lào, Phù Lá, Cống, Si La, Kháng, Lô Lô, Hoa, Lự, Tày, Nùng, Mường, Xinh Mun, Mảng). Trong đó dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất (40,43%), tiếp đến là dân tộc Mông (30,86%), dân tộc Kinh (19,11%), còn lại là các dân tộc khác chiếm 11,6% dân số.
3- Các dân tộc tỉnh Điện Biên: 
Điện Biên là nơi gặp gỡ và hội tụ sinh sống của 21 dân tộc anh em, gắn bó đoàn kết với nhau. Mỗi dân tộc có những nét riêng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa... tạo thành bức tranh đa sắc màu cho nền văn hóa Điện Biên. Cuộc sống lao động đã hình thành nên một trong những nét đẹp truyền thống văn hoá là những điệu múa xòe, lăm vông, hát then, tiếng trống hát hội... Điệu xòe Thái - nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc ở Điện Biên. Sau những ngày lao động vất vả của đồng bào dân tộc vùng cao, đêm đêm dưới ánh trăng, bên đống lửa bập bùng tiếng trống, chiêng vang lên như mời gọi bạn xòe đến quây quần cùng nắm tay lung linh trong điệu múa xòe. Xòe là cơ hội để con người thư giãn, giao lưu, chia sẻ tình cảm mở rộng lòng người hướng tới cuộc sống tươi sáng hơn. 
Khi tiếp cận với cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Điện Biên chúng ta còn được chiêm ngưỡng các trang phục được trang trí hoa văn, họa tiết rất cầu kỳ, đủ sắc màu do chính họ làm. Nhất là vào những ngày hội và mùa xuân hình ảnh các chàng trai dân tộc Mông vừa nhảy vừa thổi khèn để mời gọi các bạn gái hồn nhiên, sặc sỡ trong trang phục truyền thống đã để lại trong tâm trí những người khách phương xa dấu ấn không quên. 
Ngoài dân tộc Thái, Mông còn có các dân tộc khác mà chúng ta chỉ có thể bắt gặp ở tỉnh Điện Biên, đó là người Cống, người La Hủ, người Si La, người Mảng và các dân tộc khác, mỗi dân tộc đều mang các sắc thái văn hóa đặc trưng riêng biệt và đến với mỗi dân tộc chúng ta đều có được những cơ hội cảm nhận về một nét văn hóa đặc sắc chỉ họ mới có. 

21 DÂN TỘC ANH EM TỈNH ĐIỆN BIÊN

DÂN TộC THÁI
Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông nhất, chiếm 40,43% dân số toàn tỉnh năm (2007). Sinh sống ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất ở huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Ảng. Dân tộc Thái còn có tên gọi khác là Táy, Pu Thay, Táy Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ. Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, làm ruộng, lúa nước là nguồn lương thực chính. Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, ngô, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải rất phát triển, sản phẩm nổi tiếng là vải thổ cẩm, chăn, đệm… Những năm gần đây nam giới người Thái chủ yếu mặc âu phục, nhưng phụ nữ Thái vẫn gắn với bộ y phục rất độc đáo với chiếc áo cóm bó sát người đính hàng cúc bướm bằng bạc, chiếc váy dài chấm gót, đầu đội khăn piêu tạo nét duyên dáng cho người phụ nữ. Người Thái ở nhà sàn, vùng thấp ven sông, suối. Đồng bào thờ cúng tổ tiên, cúng trời đất, cúng bản mường. Người Thái sớm có chữ viết, có điệu múa xoè, múa sạp và nhiều truyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao.
DÂN TộC MÔNG
Cư trú ở hầu hết các huyện, tập trung đông nhất ở huyện Mường Nhé, Mường Chà, Điện Biên Đông, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Mường Ảng. Dân tộc Mông có số dân đông thứ 2 chiếm 30,86% dân số toàn tỉnh (năm 2007). Có 5 nhóm Mông chính là Mông Đơ, Mông Lềnh, Mông Si, Mông Đu, Mông Sua. Tiếng Mông thuộc ngôn ngữ Mông - Dao. Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy trông ngô, lúa một số nơi có ruộng bậc thang. Lương thực chính là ngô và lúa nương, ngoài ra còn trồng lanh lấy sợi và trồng cây dược liệu, cây hoa màu, có nghề thủ công rèn đúc phát triển từ rất sớm. 
Quần áo váy của người phụ nữ Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt theo truyền thống của dân tộc. Văn hoá của người Mông rất đa dạng và phong phú, đặc biệt là lễ hội trong ngày tết: ném pa pao, múa khèn… Người Mông thường ăn tết sớm hơn tết cổ truyền của dân tộc. Những ngày tết, bà con các làng bản lại tập trung tại những khoảng đất trống, rộng để vui chơi, múa hát. Nhiều nét văn hoá độc đáo của người Mông vẫn còn được lưu giữ, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của đồng bào.
DÂN TộC KINH
Dân tộc Kinh hay còn gọi là dân tộc Việt chiếm 19,11% dân số toàn tỉnh (năm 2007). Cư trú ở hầu hết tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất là Thành phố Điện Biên Phủ, huyện Điện Biên, huyện Tuần Giáo. Người Kinh di cư lên Điện Biên từ rất lâu, nhưng đông nhất là sau khi giải phóng Điện Biên Phủ năm 1954. Hiện nay người Kinh ở Điện Biên đến từ 36 tỉnh, thành trong cả nước. Do đó truyền thống văn hoá của người Kinh ở Điện Biên cũng in đậm văn hoá của các vùng miền. Tiếng Kinh thuộc ngôn ngữ Việt - Mường. Người Kinh làm ruộng nước từ lâu đời, có truyền thống đắp đê, đào mương, nghề làm vườn, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản. 
Bộ trang phục cổ truyền của người kinh Bắc bộ đối với đàn ông là bộ bà ba màu nâu, đối với phụ nữ là áo tứ thân, yếm, quần cũng màu nâu. Ở đồng bằng Nam bộ cả nam và nữ đều mặc bộ bà ba đen. Người Kinh sống ở nhà đất, nhà xây, có tục thờ cúng tổ tiên, con trai đầu có trách nhiệm thờ phụng ông bà, cha mẹ đã khuất. Văn học - văn nghệ của người Kinh phát triển sớm và đạt trình độ rất cao về nhiều mặt: ca hát, âm nhạc, điêu khắc, hội hoạ, múa, diễn xướng… Hội làng, hội đồng hương hàng năm là sinh hoạt văn hoá, văn nghệ phổ biến nhất ở nông thôn.
DÂN TộC DAO
Sinh sống chủ yếu ở huyện Mường Nhé, huyện Tủa chùa, có nhiều nhóm Dao như Dao quần trắng, Dao quân chẹt, Dao Tiền, Dao thanh y, Dao đỏ, Mán, Đông trại, Xá… Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao. Nghề sống chính là trồng lúa nương và ruộng nước, trồng hoa màu. Các nghề thủ công phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy … Chăn nuôi gia súc, gia cầm. Người Dao có 3 loại nhà khác nhau: Nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà đất. Trang phục của phụ nữ phong phú hơn, giữ được nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống. 
Người Dao có nhiều tín ngưỡng về thần linh, ma quỷ, một số tục thờ cúng phức tạp, tốn kém, cưới xin còn nhiều lễ nghi phức tạp. Con cái lấy họ theo cha, người Dao có nền văn hoá và lịch sử lâu đời, tri thức dân gian phong phú, đặc biệt là y học cổ truyền. không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nôm Dao.
DÂN TộC KHƠ MÚ
Dân tộc Khơ Mú cư trú đông nhất ở huyện Tuần Giáo, huyện Điện Biên, huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Chà. Tên gọi khác là Xá cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh. Tiếng Khơ Mú thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơ me. Kinh tế chủ yếu làm nương rẫy và một phần lúa nước, nghề đan lát phát triển như: đan cót, ghế mây, thúng, mẹt, nia. Bản cư trú thường cách xa nhau, nhỏ bé, ít dân. Trang phục dân tộc hầu như bị phai mờ, trang sức của phụ nữ Khơ Mú có điểm riêng biệt. Các dòng họ thường mang tên một loài thú, một loài chim hay một thứ cây nào đó, người cùng dòng họ không được lấy nhau, có tục cưới ở rể một năm.
DÂN TộC HÀ NHÌ

Trước đây, dân tộc Hà Nhì còn có tên gọi khác là U ní, Xá u ní, cư trú chủ yếu ở huyện Mường Nhé. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Người Hà Nhì thờ tổ tiên là chính. Nguồn sống chính là trồng lúa, có nơi làm ruộng, làm rẫy, chăn nuôi phát triển, các nghề thủ công như đan lát, dệt vải phát triển. Y phục người phụ nữ Hà Nhì có khác nhau một chút giữa các vùng. Mỗi bản có từ 60 - 70 hộ. Người Hà Nhì có nhiều truyện cổ, có cả truyện, có điệu múa riêng, có nhiều loại bài hát: hát ru, hát đối, hát đám cưới, hát đám ma, hát tiếp khách quý, hát trong ngày tết… và có nhiều loại nhạc cụ như: Khèn lá, đàn môi, sáo dọc.
DÂN TộC GIÁY
Dân tộc Giáy ở Điện Biên chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số toàn tỉnh. Người Giáy còn có tên gọi khác là Nhắng, Dẳng, Xạ… Tiếng Giáy thuộc ngôn ngữ Tày - Thái. Người Giáy làm ruộng là chính, một phần làm nương rẫy, chăn nuôi phát triển. Trang phục của người Giáy là đàn ông vấn khăn, đàn bà áo có 5 thân, xẻ nách bên phải cài cúc, mặc quần, đầu đội khăn hoặc vấn tóc để trần. Bản sống đông đúc, có khi tới trăm nhà, chủ yếu ở nhà trệt. Người Giáy thờ cúng tổ tiên và “vua bếp”, trời, đất, bà mụ liên quan đến sinh đẻ và trẻ sơ sinh. Có vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao, đặc biệt là dân ca rất phong phú gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, điệu khác nhau, các hình thức hát giao duyên nam nữ rất sôi nổi và hấp dẫn.
DÂN TộC LA Hủ
Sống xen kẽ chủ yếu ở huyện Mường Nhé, còn có tên gọi khác là Xá lá vàng, Khù sung…, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Lúa nước và lúa nương là nguồn lao động chính, nghề đan lát phát triển. Bản người La Hủ nằm trên sườn núi, chủ yếu là nhà trệt. Nam giới mặc quần áo giống các dân tộc khác trong vùng, phụ nữ mặc quần ngày thường áo dài xuống tới cổ chân, ngày lễ tết mặc thêm áo ngắn, ở cổ áo, nẹp ngực, ống tay có thêu hoặc đắp các vải màu có đính thêm xu bạc, xu nhôm và các bông chỉ đỏ. Trong gia đình La Hủ, chỉ con trai mới được thừa hưởng tài sản của cha mẹ, có tục ở rể từ 2 - 3 năm. Dân tộc La Hủ có kho tàng truyện cổ phong phú, có điệu múa khèn.
DÂN TộC LÀO
Cư trú tập trung ở huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, tên gọi khác là Thay Duồn, Phu thay, Phu lào... tiếng Lào thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái. Người Lào cúng tổ tiên, chịu ảnh hưởng của đạo phật, làm ruộng là chính, một số nghề như dệt, rèn, gốm, làm đồ bạc phát triển. Người Lào sống định cư, chủ yếu là nhà sàn, nghề dệt vải phát triển, trang phục của người phụ nữ nhiều hoa văn sặc sỡ . Người Lào có nhiều truyện cổ, dân ca, đặc biệt là điệu múa Lăm vông, nhạc cụ nổi tiếng như trống, chiêng, đàn...
DÂN TộC Lự
Hiện nay chỉ còn một số ít sinh sống xen lẫn với các dân tộc khác, người Lự còn có tên gọi khác là Duồn, Nhuồn, tiếng Lự thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái. Dân tộc Lự có truyền thống làm ruộng lâu đời, ngoài ra còn làm nương trồng ngô, lúa, hoa màu, có nghề dệt vải phát triển. Từ quần đàn ông cho đến váy, áo, khăn của người phụ nữ thường có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm. Người Lự ở nhà sàn, có tục ở rể, con cái lấy họ theo cha. Người Lự hay hát dân ca, yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ.
DÂN TộC HOA 
Còn gọi là dân tộc Xạ Phang, sinh sống chủ yếu thị xã Mường Lay, huyện Tủa Chùa, huyện Điện Biên, Tuần Giáo, tiếng nói thuộc nhóm Hán. Người Hoa làm nhiều nghề khác nhau: Nông nghiệp, thủ công nghiệp, buôn bán, dịch vụ, sống tập trung thành làng, bản, thường ở nhà đất hoặc nhà xây. Trang phục đàn ông ăn mặc như các dân tộc láng giềng, đàn bà mặc áo 5 thân cài cúc vải bên nách phải, dài chấm mông. Người Hoa thích hát sơn ca gồm các chủ đề phong phú, ca kịch được ưa chuộng. Nhạc cụ có kèn, sáo, nhị, trống, đàn tỳ bà, tam thập lục... Ngày lễ tết là dịp tổ chức biểu diễn múa sư tử, múa quyền thuật, chơi đu, đấu vật, đánh cờ...
DÂN TộC KHÁNG
Cư trú chủ yếu ở huyện Tuần Giáo, Mường Chà, Tủa Chùa, tên gọi khác là Mơ kháng, Háng, Brển, Xá... tiếng Kháng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ me. Người Kháng sống bằng nghề làm nương rẫy, một số nơi làm ruộng nước, chăn nuôi lợn, gà, trâu, có nghề đan lát ghế, rổ rá, nia, gùi... và đóng thuyền độc mộc kiểu đuôi én được các dân tộc làng giềng ưa thích. Trang phục gần giống người Thái, phụ nữ thường ăn trầu, nhuộm răng đen. Người Kháng ở nhà sàn, các nhạc cụ thường dùng là đàn, trống, chiêng, nhị, vào những ngày lễ hội, ngày vui họ thường đánh trống, chiêng nhảy múa hát như người Thái.
DÂN TộC MảNG
Người Mảng còn có tên gọi khác là Mảng Ư, Xá lá vàng. Tiếng nói thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơ me. Người Mảng sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, một vài nơi có làm ruộng bậc thang. Phương thức canh tác lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, chăn nuôi lợn, gà, có ghề đan lát như: cót, bem... Ở nhà sàn nhưng nhà sơ sài, đơn giản. Trang phục nam giới áo xẻ ngực, phụ nữ mặc váy dài, áo cánh xẻ ngực và choàng một tấm vải trắng có trang trí hoa văn. Trai gái tự do yêu nhau, lúc đưa dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và họ nhà gái để giành cô dâu. Họ quan niệm, trời là đấng sáng tạo, là vị thần cao nhất, trời là thế giới của thần linh, sáng tạo. Người Mảng có tiếng nói riêng, phong tục tập quán riêng.

DÂN TộC TÀY
Dân tộc Tày ở Điện Biên thường sống ở các thị trấn, thị xã, huyện như huyện Điện Biên, Mường Ảng, Tuần Giáo, Mường Lay. Tên gọi khác là Thổ, tiếng Tày thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái. Người Tày có nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển, mỗi bản có từ 10-20 nhà, bản lớn chia ra nhiều nhóm nhỏ. Nhà ở gồm có nhà sàn, nhà đất, trong nhà phân biệt phòng nam, phòng nữ ở trong buồng. Họ thường mặc quần, áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải cài khuy. Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ, ca, múa, nhạc... tục ngữ, ca dao, chiếm một khối lượng đáng kể, các làn điệu dân ca phổ biến là hát lượn, hát then, hát đám cưới, hát ru.
DÂN TộC CốNG
Dân tộc Cống tập trung đông nhất ở huyện Điện Biên và huyện Mường Nhé. Tên gọi khác là Xám Khống, Phuy A, tiếng Cống thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến. Người Cống sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, phương thức canh tác lạc hậu. Phụ nữ Cống không biết dệt vải, chỉ trồng bông đổi vải, nam nữ đều biết đan lát. Người Cống thường ở nhà sàn, theo phong tục người Cống thì người cùng họ phải cách nhau 7 đời mới được lấy nhau, có tục ở rể vài năm. Người Cống có lịch riêng, 1 năm có 12 tháng (ứng với 12 con vật), thờ cúng tổ tiên 2-3 đời, lễ cúng được thực hiện vào những ngày cưới, ăn cơm mới, khi sinh con, khi bố mẹ mất và nhiều lễ cúng khác nhằm cầu mong mùa màng tươi tốt, mọi người no đủ. Nền văn nghệ dân gian khá phong phú, các làn điệu dân ca sâu lắng thường diễn ra vào dịp lễ hội vui chung.
DÂN TộC XINH MUN
Cư trú chủ yếu ở Điên Biên Đông, ngoài ra còn có tên gọi là Puộc, Xá, Pựa, tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Người Xinh mun sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương trồng ngô, lúa, chăn nuôi chủ yếu là lợn, gà, trâu, dê... nghề đan lát khá phát triển. Người Xinh mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần thích gia vị cay. Làng bản đông đúc, nhà sàn, con cái theo họ cha, đa số là họ Lô. Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái, sau lễ dạm hỏi mới đến lễ đi ở rể, thường là 3 năm. Kể từ lễ đi ở rể đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do bố, mẹ hay thầy cúng đặt cho, con cũng do thầy cúng đặt tên. Người Xinh mun thờ cúng tổ tiên hai đời tại một góc nhà, nhưng chỉ làm lễ cúng khi gia đình làm nhà mới, ăn cơm mới, có đám cưới... Bố mẹ khi qua đời được thờ cúng trong ngôi nhà nhỏ một mái dựng gần nhà ở.
DÂN TộC LÔ LÔ
Ở Điện Biên dân tộc Lô Lô chỉ còn lại một số ít sinh sống xen kẽ, rải rác ở các địa phương. Dân tộc Lô Lô có tên gọi khác là Mùn di, Di... có hai nhóm: Lô Lô hoa và Lô Lô đen, ngôn ngữ thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến. Người Lô Lô thờ tổ tiên là chính, sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương, ngô và các loại hoa màu khác. Họ lập bản ở lưng chừng núi xen kẽ với nhiều dân tộc khác, có 3 loại nhà: nhà đất, nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất. Phụ nữ Lô Lô hoa thường mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, quần chân què, ngoài quần còn quấn thêm váy lửng. Phụ nữ Lô Lô đen mặc quần chân què, áo cổ vuông chui đầu, cách bố trí hoa văn ở áo váy, quần có nét riêng biệt rất sặc sỡ. Hôn nhân của người Lô Lô là một vợ một chồng, cư trú ở nhà chồng. Người Lô Lô có trống đồng, tộc trưởng của mỗi dòng họ là người được giữ trống, trống chỉ được dùng trong các đám tang. Văn hóa Lô Lô đa dạng, đặc sắc thể hiện qua các điệu nhảy múa, hát ca, truyện cổ...

DÂN TộC SI LA
Điện Biên có một bản duy nhất ở bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tên gọi khác là Cù dề sừ, Kha pẻ, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Người Si la sống bằng nghề nương rẫy trồng ngô, lúa, săn bắn và hái lượm, ở nhà trệt, có bếp lửa giữa nhà, phụ nữ ăn mặc khá độc đáo, đặc biệt là mảng ngực khác màu với áo, gần đây xu bạc, xu nhôm, khăn đội cũng khác nhau theo lứa tuổi. Người Si la có nhiều dòng họ, các họ đều không ăn thịt mèo. Trong xã hội ngoài trưởng họ, người Si la rất coi trọng các thầy mo, phong tục có đặc điểm là làm lễ cưới hai lần, lần sau cách lần trước khoảng 1 năm. Nhà trai phải có một khoản tiền cưới trao cho nhà gái mới được đón dâu về. Người Si la dựng nhà mồ xong mới đào huyệt bên trong, quan tài gỗ độc mộc. Đặc biệt, khi có người chết, đồng bào tổ chức vui chơi, ca hát không có tiếng khóc.
DÂN TộC NÙNG
Dân tộc Nùng cư trú chủ yếu ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên, bao gồm các nhóm khác nhau: Xuồng, Giang, Nùng an, Nùng lòi ... Tiếng Nùng rất gần với tiếng Tày và thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái. Người Nùng thờ tổ tiên là chính, bàn thờ để ở một buồng trong nhà. Nguồn sống chính là cây lúa, ngô, cây ăn quả, cây công nghiệp, ngoài ra còn có nghề dệt, nghề mộc, đan lát, rèn, gốm cũng phát triển. Đồng bào sống thành từng bản trên các sườn đồi, chủ yếu ở nhà sàn, mặc quần áo chàm. Dân tộc này có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà bản sắc dân tộc.

DÂN TộC MƯờNG
Dân tộc Mường ở Điện Biên cư trú xen kẽ với các dân tộc khác ở thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay. Người Mường thờ cúng tổ tiên và tin vào đa thần giáo, người Mường làm ruộng từ lâu đời, lúa nước là chủ yếu, nghề thủ công tiêu biểu là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Trang phục nam giới giống các dân tộc khác, phụ nữ đội khăn màu trắng hình chữ thập, mặc yếm và áo cánh ngắn, thân có xẻ ngực, váy khá dài, mặc cao đến nách. Tục cưới xin gần giống người Kinh, khi trong nhà có người sinh nở đồng bào rào cầu thang chính bằng phên nứa, khi trẻ hơn một tuổi mới đặt tên. Đồng bào Mường có nhiều ngày hội trong năm như: hội xuống đồng, hội cầu mưa (vào tháng 4), lễ rửa lá lúa (vào tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới...
DÂN TộC PHÙ LÁ
Sinh sống chủ yếu ở huyện Tuần Giáo và huyện Tủa Chùa, tên gọi khác là Lao va xơ, Xá phó, Bồ khô pạ. Người Phù Lá thờ tổ tiên, sống thành bản xen kẽ với các dân tộc khác, mỗi bản có từ 5-15 nóc nhà. Nhà sàn đơn giản hoặc có một số làm nhà đất, kinh tế chính là làm nương rẫy trồng ngô, lúa, một số có ruộng bậc thang, chăn nuôi chủ yếu trâu, ngựa, lợn, gà nhưng ít. Nghề thủ công nổi tiếng là đan mây, tre, làm ghế, lu cở, gùi và các dụng cụ để chứa đựng... Trang phục đàn ông ngày nay giống các dân tộc khác trong vùng, trang phục nữ được thêu nhiều hoa văn rực rỡ, ngoài áo thường đeo yếm cổ vuông thêu hoa văn, đằng trước đính thêm hạt cườm tạo thành đường song song hoặc sao 8 cánh. Thanh niên nam nữ không bị ép buộc hôn nhân, cô dâu về ở nhà chồng, tuy nhiên có người vẫn phải ở rể do nhà gái không có con trai.
4- Truyền thống văn hoá các dân tộc tỉnh Điện Biên:
Từ xa xưa, Điện Biên đã từng là một trung tâm của vùng Tây Bắc, cũng là nơi tụ hội của nhiều dân tộc, vì thế có nền văn hoá lâu đời, đa dạng, phong phú. Văn hoá các dân tộc Điện Biên chủ yếu là văn hoá dân gian, giàu tính chất cội nguồn, mang đậm chất văn hoá bản địa. Đó là văn hoá của người lao động sáng tạo, nhằm phản ánh mơ ước, nguyện vọng và cuộc sống của họ. Vì thế văn hoá luôn gắn chặt với mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của đồng bào.
Theo truyền thống, hoạt động sản xuất chủ yếu của đồng bào các dân tộc là sản xuất nông nghiệp, bao gồm chăn nuôi và trồng trọt. Ở vùng thấp, dân tộc Thái là những cư dân có kỹ thuật canh tác lúa nước khá sớm. Bên cạnh canh tác lúa nước, nương rẫy là loại hình canh tác quan trọng thứ hai của đồng bào vùng cao và vùng sâu, vùng xa. Văn hoá của các dân tộc khá độc đáo, phong phú, mang sắc thái của các dân tộc thể hiện trên các lĩnh vực: kiến trúc, sản xuất, văn học, nghệ thuật, đời sống, sinh hoạt... Trang phục của mỗi dân tộc khác nhau về kiểu dáng, hoa văn. Về ẩm thực: món ăn thường ngày là xôi nếp, cơm tẻ, ngô, rau; thức ăn ưa thích là đồ nướng, hấp (đồ), có nhiều gia vị; đồ uống phổ biến là rượu nếp, rượu ngô... Nhà ở có 2 loại chính là nhà sàn và nhà nền đất. Nhiều công trình kiến trúc mang đậm bản sắc dân tộc như tháp Chiềng Sơ, tháp Mường Luân (huyện Điện Biên Đông); thành Tam Vạn và thành bản Phủ (huyện Điện Biên)...vẫn còn đến ngày nay.
Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng, đặc biệt người Thái và người Mông còn có chữ viết. Nhờ đó mà các tác phẩm văn học trữ tình như: Xống trụ xon xao (Tiễn dặn người yêu), Tản trụ xiết xương (Thương nhớ), Chuyện kể bản mường... còn được lưu truyền đến ngày nay. Các hoa văn thổ cẩm của đồng bào dân tộc tương đối tinh xảo, có nhiều mẫu đẹp. Các trò chơi dân gian như: đánh cù, đẩy gậy, ném còn, ném pa pao, kéo co… Hoạt động văn hoá văn nghệ như: múa xoè, múa nón, múa sạp của người Thái; múa ô, múa khèn của người Mông; múa chuông của người Dao; múa trống, múa tăng bu của người Khơ Mú... là vốn quý và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
Tất cả những bản sắc riêng độc đáo của nền văn hoá từng dân tộc đã và đang được bảo vệ, giữ gìn, làm nên sự đa dạng, phong phú cho nền văn hoá của miền đất lịch sử.

 

mẹo vặt cuộc sống | viem kiem sat | sunmart | bài giảng văn mẫu | bài giảng văn học | văn bản tài liệu | tập làm văn | thịt khô | hướng dẫn cách làm | châm ngôn sống |