Dân tộc Hà Nhì

0

Dân tộc Hà Nhì có nhiều kinh nghiệm trong những công việc nông tang, đồng bào vừa giỏi chăn nuôi vừa giỏi trồng trọt, cả trồng ngô, trồng lúa lẫn trồng bông, trồng chàm, cả ở trên nương lẫn ở dưới ruộng. Họ biết cách khai khẩn đất đai, đào mương đắp đập, sử dụng sức kéo của trâu bò. Người Hà Nhì sống quây quần, đoàn kết, cá biệt có bản đông tới gần 100 gia đình.

Dân tộc Hà Nhì vốn được xem là một dân tộc thông minh, cần cù, tự trọng và dễ tin người; nhưng, nếu đã bị phản bội dù chỉ một lần, thì vĩnh viễn không bao giờ họ tin lại nữa. Nhìn chung, đại đa số người Hà Nhì tự túc được vải mặc, bởi phụ nữ Hà Nhì rất chăm chỉ và giỏi việc canh cửi tằm tơ, họ tự đảm nhận mọi công đoạn cho đến lúc làm ra tấm vải.

Về tín ngưỡng, người Hà Nhì chủ yếu thờ cúng tổ tiên dòng họ nhà mình; các đấng thần phật được coi như không tồn tại trong đời sống tâm linh của bà con. Mỗi địa phương người Hà Nhì có một phong tục ma chay, cưới hỏi khác nhau.

dan toc ha nhi Dân tộc Hà Nhì

Với người Hà Nhì tỉnh Điện Biên, khi cha, mẹ chết thì buồng ngủ của người đó sẽ được rỡ bỏ toàn bộ hoặc từng phần; ít nhất cũng phải tháo rút tượng trưng vài tấm ván hoặc một bức vách nào đấy. Trước lúc phát tang ra bên ngoài, thì ở trong nhà bàn thờ của gia đình phải hạ xuống, cất đi. Thi hài người chết được đưa xuống bếp, đặt nằm tạm trên chiếc chõng mới làm, "đợi" đến ngày tốt và giờ tốt mới được đem chôn. Giờ "tốt" đó thường trùng với cái giờ lúc người chết tắt thở, đồng bào cho rằng nếu không thế thì người chết sẽ "tái sinh", đầu thai thành các giống vật hung dữ quay trở về nhiễu hại cuộc sống gia đình, làng bản. Ngoài một con gà nướng, được làm thịt bằng cách đập chết chứ không cắt tiết, người chết còn được cúng bằng một bát cơm và một quả trứng gà luộc. Cúng xong, mỗi thứ "để phần" người chết một ít, còn lại gia đình chia nhau ăn. Đó là bữa cơm "đoàn tụ" cuối cùng, để tiễn biệt người xấu số trước lúc họ mãi mãi đi xa. Trong đám tang, chỉ người anh hoặc em trai mẹ (tiếng Hà Nhì là gố gô) mới được quyền đứng chân chủ tế, và cũng chỉ ấy mới có quyền để tang. Tục lệ này chính là tàn dư của chế độ mẫu hệ còn rơi rớt lại, đặc biệt với nhóm Hà Nhì Cồ Chồ. Người Hà Nhì không làm nhà mồ và cũng không rào giậu xung quanh mộ, thay vào đó là những hòn đá xếp sơ sài, tạm bợ. Ngược lại, lúc lấp đất xuống huyệt họ lại làm rất từ từ, cẩn thận, tránh không lấp lẫn cỏ tươi xuống cùng. Theo quan niệm âm – dương tương khắc, người Hà Nhì cho rằng cỏ tươi là sự sống, mà sự sống thì không "ở chung" với cái chết…

Trai gái Hà Nhì được quyền tự do lựa chọn bạn đời và tự quyết định hôn nhân của mình. Ngay sau lần cưới thứ nhất, cô dâu được đổi họ theo bên chồng và về ở nhà chồng luôn; nhưng cũng có nơi, con trai lại phải ở rể nhà vợ. Thời gian ở rể dài hay ngắn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai họ, trên cơ sở những khó khăn và thuận lợi của nhà gái. Lần cưới thứ hai và cũng là lần cuối, được tổ chức vào một thời điểm thích hợp nhất, khi điều kiện kinh tế cho phép, thậm chí sau hàng chục năm chung sống. Lúc ấy dù họ chưa có con hay đã có con, có ít hay nhiều con, đông cháu, đều không quan hệ gì tới hôn lễ. Vợ chồng người Hà Nhì sống chung thuỷ, cùng có trách nhiệm trong việc phụng dưỡng cha mẹ hai bên, nuôi dạy con cái và chăm lo cuộc sống gia đình. Từ xưa, việc ly hôn được xem là vấn đề vô cùng hệ lụy, thuộc phạm trù đạo đức, ảnh hưởng xấu đến danh dự gia đình và uy tín dòng tộc; do vậy rất hiếm khi xảy ra.

Để phân biệt người Hà Nhì với người dân tộc khác, xin hãy quan sát trang phục của phụ nữ, nhất là phụ nữ chưa chồng. Với chiếc mũ – khănđược trang trí bởi nhiều cúc bạc, nhiều hạt cườm, nhiều tua rua bằng các loại chỉ màu sặc sỡ; thiếu nữ Hà Nhì gợi cho ta nhớ tới hình ảnh của những nhân vật nữ đài các, quyền uy, trong các truyền thuyết cổ xưa. Phụ nữ Hà Nhì mặc áo dài, 5 thân, xẻ từ sườn xuống chân, không chiết co như áo tân thời của phụ nữ người Kinh. Người Hà Nhì tự làm lấy váy áo cho mình, bằng vải bông nhuộm chàm màu đen, màu xanh hoặc bằng vải láng. Vào những dịp lễ tết, hội hè, họ mặc thêm áo ngắn kiểu gilê ở bên ngoài. Trên ngực áo, phía phải, gắn thêm những đồng xu bằng bạc hoặc cúc bằng nhôm. Khăn, ngực áo và hai ống tay áo, là nơi để chị em phô diễn kỹ nghệ thêu móc và trình độ thẩm mỹ của mình; thông qua cách bố trí các khoanh vải có màu sắc tương phản nhau, cùng những đường nét hoa văn bổ trợ cho nhau.

Dân tộc Hà Nhì có một nền văn hoá – văn nghệ lâu đời, đa dạng và đậm đà bản sắc; bao gồm nhiều loại bài hát, nhiều điệu dân vũ, nhiều kiểu nhạc cụ và rất nhiều tác phẩm văn học dân gian. Về hát, có hát ru con, hát đối đáp, hát mời rượu, hát đưa ma, hát chào khách, hát mừng nhà mới và đặc biệt là bài hát dùng trong đám cưới có độ dài hơn 400 câu, của người Hà Nhì ở vùng cao Mường Nhé – Điện Biên. Về múa có các điệu: Múa lên nương, múa dệt vải, múa đợi mưa, múa vào mùa, múa trông trăng, múa giã bạn…Về nhạc cụ, có trống, thanh la, chập cheng, am ba, tu huý, khèn lá, đàn môi, tiêu trúc (4 lỗ), nát xi, la khư và điển hình là đàn nét đu – loại đàn 4 dây hoà âm, mang tên một loài hoa rừng màu tím. Về văn học, người Hà Nhì có rất nhiều truyện cổ tích, thần thoại, trường ca, truyện thơ, ca dao, thành ngữ, tục ngữ… Song, đến nay, hầu hết các loại hình văn hoá kể trên vẫn chưa được sưu tầm, tập hợp dưới hình thức nghiên cứu, lưu giữ. Cùng với thời gian, chúng đang dần dần bị lai tạp và bị lãng quên một cách thật đáng tiếc. Lấy ví dụ như trường ca trữ tình LHá Pà Dí, hiện giờ, ngay cả với người Hà Nhì thì cũng còn rất ít các lão nghệ nhân trên dưới 70 tuổi, mới thực sự biết diễn xướng đúng cách. Vậy một mai khi thế hệ các cụ lần lượt qua đời, liệu trường ca ấy có thoát khỏi số phận bị thất truyền?…

Ngày nay, cùng với 53 dân tộc anh em khác trong cả nước nói chung và Điện Biên nói riêng, bà con Hà Nhì đang ra sức thi đua xây dựng quê hương giàu mạnh, bản làng no ấm, gia đình hạnh phúc, yên vui. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, đồng bào đã định canh định cư, gia tăng sản xuất, bảo vệ nguồn rừng; xoá bỏ dần những hủ tục nặng nề, lạc hậu. Tinh thần: "Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số", của nghị quyết V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, như một luồng gió mới đem sức sống về tận các làng bản Hà Nhì ở những vùng hẻo lánh xa xôi.

* Thời chống Mỹ cứu nước, xã Chung Chải (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) đã được phong tặng danh hiệu: " Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Đó là một xã vùng cao, toàn người Hà Nhì, nằm trên vùng tam giác biên giới Việt – Trung – Lào.

Thanh Bình

Từ khóa tìm kiếm

  • dan toc ha nhi
  • tộc hà nhì
Chia sẻ bài viết: