Dân tộc Kháng

0

Với số dân chừng 11 nghìn người, dân tộc Kháng gồm các tên gọi: Xá Khao, Xá Xủa, Xá Don, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá ái, Xá Bung và Quảng Lâm. Địa bàn cư trú của người Kháng chủ yếu tại 2 tỉnh Điện Biên và Sơn La, một số ít tại tỉnh Lai Châu. 

Với người Kháng, trồng trọt trên nương là hình thái kinh tế chủ đạo, lúa ruộng có nhưng không nhiều. Lúa nương nếp được bà con chuộng hơn cả. Đồng bào nuôi lợn, gà, vịt để ăn thịt là chính hoặc sử dụng trong ma chay, cưới hỏi… Đàn gia súc dùng trong sản xuất hoặc vận tải hàng hoá nông sản. Người Kháng có nhiều kinh nghiệm chế tạo thuyền độc mộc đuôi én. Thuyền làm ra vừa để dùng vừa để bán cho các dân tộc khác.

 Ngoài ra, phải kể đến kỹ thuật đan tre và song mây nổi tiếng của người Kháng; những chiếc bung, bem, coóng khẩu, mẹt… đạt đến trình độ cao của nghề đan, được nhiều dân tộc khác ưa chuộng. Hái lượm, săn bắn là công việc thường xuyên của đồng bào. Hàng ngày từ trên nương trở về, những người đàn ông thường có thứ gì đó góp vào bữa ăn gia đình; chẳng hạn như mấy con sóc, xâu cá suối, một ít ớt tươi, vài cái măng tre…

dan toc khang Dân tộc Kháng

Tiếng nói người Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, đồng bào không có chữ viết riêng. Sự nghiệp giáo dục vùng dân tộc Kháng phát triển chậm, tỉ lệ trẻ em đến trường ở nhiều nơi chưa cao. Văn học dân gian của người Kháng khá phong phú, nội dung phản ánh đời sống văn hoá của một tộc người cư dân nông nghiệp miền núi, với những điều kiện sống còn nhiều khó khăn. Người Kháng cư trú theo từng bản, trong bản vai trò của thầy cúng hết sức quan trọng, được nhiều người tin theo.

Hôn nhân của người Kháng là hôn nhân tự nguyện, một vợ một chồng, phía con trai chủ động các bước cưới hỏi. Theo phong tục, sau khi cưới chàng rể phải ở rể một thời hạn nhất định, từ 1 đến 3 năm. Hết hạn ở rể, nhà trai tổ chức lễ đón dâu về bên nhà gái. Lúc này, việc sắm sửa vật dụng cho đôi vợ chồng trẻ, thuộc trách nhiệm của nhà gái. Gia đình truyền thống của người Kháng là mẫu tiểu gia đình phụ hệ, chú trọng bênh vực quyền lợi cho đàn ông và các con trai.

Xưa kia đồng bào Kháng quan niệm sở dĩ người ta sống được là nhờ có 5 hồn tất cả: Gồm 1 hồn chính ở trên đầu, 2 hồn ở 2 tay và 2 hồn ở 2 chân. Khi chết, 5 hồn biến thành 5 con ma; hồn đầu ở lại gia đình để phù hộ cho con cháu gặp nhiều may mắn, hồn tay phải thành ma trông coi mùa màng, hồn tay trái thành ma ở gốc cây làm quan tài, hồn chân phải thành ma trông coi phần mộ, hồn chân trái thành ma lang thang trong vũ trụ. Đồng bào Kháng có tục thờ ma nhà, có nghi lễ cúng ma đất, ma trời. Trong 3 ngày lễ, kiêng kị không cho ai ra khỏi bản, không cho người lạ vào trong bản.

Thanh Bình

 

Từ khóa tìm kiếm

  • dân tộc Kháng
  • văn học của người Kháng
Chia sẻ bài viết: