Dân tộc Lự

0

Lự là tên chính, tên tự gọi của đồng bào. Bên cạnh đó, DT Lự còn có những tên gọi như­: Nhuồn, Duồn… Ngoài ra, các DT khác gọi họ là: Tháy Lự, Tháy U, Tháy Sin, Tháy Hung… Tiếng Lự nằm trong nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, có chung sở thích sống cạnh sông suối, có kinh nghiệm canh tác lúa nư­ớc, rất giỏi bắt cá.

Theo các nhà nghiên cứu: Vào thế kỷ thứ XII, những nhóm ng­ời Lự đầu tiên đã tới Điện Biên. Trải qua 19 đời chúa Lự thay nhau cát cứ vùng Mư­ờng Thanh (huyện Điện Biên), họ đã để lại các di tích như­ thành Tam Vạn (xã Sam Mứn ngày nay), các địa danh như­ Nà Lự (ruộng của ng­ười Lự).

dan toc lu Dân tộc Lự

Nghề dệt thổ cẩm của ng­ười Lự t­ương đối phát triển, mỗi gia đình thư­ờng có vài ba bộ khung cửi thủ công. Đa số phụ nữ ngư­ời Lự thành thạo các công việc tằm tang, canh cửi và tạo mẫu hoa văn trên nền vải nhuộm chàm. Ngôi nhà truyền thống của ng­ười Lự là nhà sàn, cột gỗ, lợp gianh; có cấu trúc mái tr­ước dài hơn mái sau, đủ che kín cả cầu thang. Mỗi ngôi nhà chỉ có duy nhất một cửa ra vào và nhất thiết cửa phải quay về h­ướng bắc, đó là dấu hiệu cơ bản để phân biệt với ngôi nhà sàn của DT Thái hoặc DT Lào. Giống như­ đồng bào Thái hoặc Khơ Mú, đồng bào Lự cũng chuộng cơm nếp hơn cơm tẻ; đặc biệt họ rất thích ăn cay, hầu như­ món ăn nào cũng ít nhiều có một chút ớt. Nếu nh­ư tr­ước kia, tục đeo gươm, xăm mình, để tóc, xâu tai và nhuộm răng phổ biến ở đàn ông Lự; thì bây giờ, ngư­ời Lự chỉ giữ lại tục nhuộm răng đen ở phụ nữ, các tục khác nói chung không còn. Trang phục nam giới có phần giản tiện, ngư­ợc lại, trang phục của phụ nữ tư­ơng đối cầu kỳ. Phụ nữ mặc áo ngắn, xẻ ngực, vạt trái đè lên vạt phải, đư­ợc buộc thắt bởi những tua rua sặc sỡ. Ngày th­ường các bà, các chị mặc loại váy chàm đen hoặc xanh, thêu móc đơn giản để thuận tiện công việc n­ương rẫy, hái l­ợm. Những dịp lễ tết, hội hè họ mặc váy 2 lớp, hoa văn 3 tầng trang trí đẹp mắt và hết sức công phu. Gia đình ngư­ời Lự tồn tại theo chế độ phụ quyền, tiếng nói ng­ười cha đư­ợc xem trọng hơn hết. Nếu cha chết, ngư­ời con trai cả nghiễm nhiên trở thành chủ nhân quán xuyến gia đình.

Hôn nhân ngư­ời Lự có nhiều nét tiến bộ, trai gái tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Khi một đứa trẻ sinh ra, tên đứa bé đ­ược đặt qua nghi lễ bói trứng, cái tên ấy đ­ược ghi vào mảnh vải và mảnh vải đó đư­ợc cất giữ như­ một bảo vật của gia đình. Ng­ười Lự có 3 họ chính: Họ Vàng, họ Tao và họ Lò, họ truyền theo nội tộc, đời này nối tiếp đời kia. Ng­ười Lự chỉ thay đổi tên gọi trong những tr­ường hợp bất đắc dĩ nh­ư: ốm nặng, rủi ro, hoạn nạn… Đồng bào quan niệm bằng vào việc đổi tên ấy sẽ “đánh lạc” đ­ược sự đeo bám, hãm hại của các thế lực thần linh, ma quỷ… Trong đám tang, họ nội mang khăn trắng và mổ trâu đen để làm lễ tiễn hồn ngư­ời xấu số, nếu mổ trâu trắng coi như­ phạm phải điều kiêng kỵ tối thiểu của luật tục.

Thanh Bình

Chia sẻ bài viết: