Điện Biên – Điều kiện tự nhiên

0

1. Vị trí địa lý

Tỉnh Điện Biên được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/ QH 11 “Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh” ngày 26-11-2003 của Quốc hội khoá XI. Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên.

Điện Biên là tỉnh miền núi, vùng biên giới, nằm ở phía Tây Bắc nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên toạ độ địa lý 200 54’ – 220 33’ vĩ Bắc, 1020 10’ – 1030 56’ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu; phía Đông – Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa với đường biên giới dài 38,5 km; phía Tây – Tây Nam giáp với tỉnh Luông Pha Băng và Phong Sa Lỳ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài 360 km.

Hiện nay, Điện Biên có diện tích tự nhiên 9.562,9 km2 (≈ 2,9% diện tích cả nước); có 9 đơn vị hành chính trực thuộc là: Thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, các huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Ảng, Điện Biên Đông, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa. Tỉnh lỵ đặt tại Thành phố Điện Biên Phủ. 

dieu kien tu nhien dien bien Điện Biên   Điều kiện tự nhiên

2. Địa hình

Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt ngang và chia cắt sâu lớn; được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sông suối nhỏ, hẹp và dốc phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh. Núi cao tập trung ở phía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và Tuần Giáo. Đó là các dãy núi thượng nguồn sông Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là Pú Huổi Luông (2.178m), núi Pho Thông (1.908m), Nậm Khẩu Hú (1.747m), dãy núi Hồ Nậm Nghèn (1.395m). Xen giữa núi và cao nguyên là các thung lũng hoặc lòng chảo có bề mặt tương đối bằng phẳng, những dạng địa hình này chiếm phần diện tích không lớn. Đáng chú ý nhất là lòng chảo Điện Biên Phủ rộng khoảng 150.000 ha với bề mặt bằng phẳng, có nguồn gốc tích tụ trầm tích tạo nên cánh đồng Mường Thanh. Đây là cánh đồng rộng nhất trong 4 cánh đồng vùng Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc) với diện tích hơn 4.000 ha lúa nước, là vùng lúa trọng điểm của tỉnh. Bên cạnh đó, huyện Tuần Giáo cũng có nhiều cánh đồng có khả năng thâm canh và tăng năng xuất lúa nước. Các cao nguyên Si Pa Phìn (Mường Chà), Tả Phình (Tủa Chùa)… thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc. 

3. Địa chất

Điện Biên nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam có lịch sử phát triển địa chất lâu dài và cấu trúc kiến tạo phức tạp. Sau pha ổn định về địa chất kiến tạo tương đối vào Pliocen và giai đoạn Đệ tứ, địa hình núi phân cách được thiết lập. Do nâng cao các dòng chảy diễn ra qúa trình đào xẻ lòng làm cho các thung lũng sông ngày càng sâu với các sườn dốc 300 – 400 ; bên cạnh đó còn tạo thành các vách dốc đứng, nhiều thác ghềnh (thung lũng thị xã Mường Lay). Các quá trình ngoại sinh xảy ra mạnh mẽ dẫn đến hình thành hàng loạt các vạt sườn – lũ tích, qúa trình đổ lở đất…. mà bản chất của chúng chính là những đới phá huỷ đứt gãy kiến tạo hoạt động. 

Tại Điện Biên có nhiều đứt gãy sâu phân đới: Đứt gãy sông Đà, đứt gãy Điện Biên – Lai Châu, đứt gãy Sơn La. Trong đó đứt gãy Lai Châu – Điện Biên hoạt động tách giãn mạnh, tạo ra sụt lún dạng địa hào và nâng mạnh ở hai bờ đông tây, mật độ dập vỡ vỏ trái đất cũng tăng cực đại. Những yếu tố trên cùng một lúc tác động cộng hưởng mạnh mẽ tạo ra các khu vực trượt lở và lũ bùn đá điển hình có quy mô vào loại lớn đặc trưng được biết trên thế giới. Đó chính là nguyên nhân khiến cho các hiện tượng như lũ lụt, động đất… xảy ra. Đồng thời các đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phân bố khoáng sản, động đất cũng như phân bố các vùng trượt lở trên địa bàn tỉnh.

Sự đa dạng và phức tạp về điạ chất đã tạo sự phong phú về loại hình khoáng sản. Đó là năng lượng, khoáng chất công nghiệp, kim loại, nước khoáng và nước khoáng nóng… Trong đó đặc biệt trữ lượng về than, vật liệu sản xuất xi măng, nguồn nước khoáng chất lượng cao có thể khai thác với quy mô lớn. Nguồn than mỡ khu vực huyện Điện Biên và Điện Biên Đông; khoáng sản thuộc các nhóm vật liệu xây dựng thông thường, làm nguyên liệu sản xuất xi măng ở Tuần Giáo, Tủa Chùa; sắt, đồng, Ăng ty moan thuộc huyện Mường Chà; chì – kẽm ở huyện Tuần Giáo, huyện Tủa Chùa; vàng ở huyện Điện Biên Đông, đá vôi ở huyện Điện Biên….Các kim loại màu như chì, kẽm, nhôm, sắt, đồng …phân bổ nhiều nơi trên địa bàn của tỉnh. Hiện nay đã xác định 83 mỏ, điểm mỏ khoáng sản và biểu hiện khoáng sản trên địa bàn tỉnh, nếu được đầu tư, khai thác thì thực sự sẽ đưa công nghiệp của tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn.

4. Khí hậu, thuỷ văn

* Khí hậu:

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng núi mùa đông lạnh. Suốt mùa đông duy trì một tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa, còn mùa hè nhiều mưa. Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hoá đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa. 

Điện Biên có nhiều nắng, khoảng 1.820-2.035 giờ/năm; 115-215 giờ/tháng. Ba tháng (3 – 5) có nhiều nắng nhất, đạt từ 145- 220 giờ/ tháng. Ba tháng mùa mưa (6 – 8) có ít nắng nhất, tuy nhiên vẫn có khoảng 115 – 142 giờ/ tháng.

Nhiệt độ trung bình năm thay đổi theo độ cao địa hình. Vùng thấp dưới 300m nhiệt độ trung bình năm cao, đạt 230 C; ở độ cao khoảng 750 – 800m đạt 200C; giảm xuống 160 C ở độ cao khoảng 1.550-1.660m.

Nhiệt độ trung bình dao động mạnh trong năm, với biên độ đạt khoảng 8,3-10,30 C. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất trong năm (tháng 1 hoặc 12) đạt 17,10C; giảm theo độ cao điạ hình xuống khoảng 12,40C ở Pha Đin có độ cao 1347m. Nhiệt độ trung bình tháng 6 (tháng nóng nhất) đạt 26,60 C ở vùng thấp dưới 300m và giảm xuống còn 20,70 C ở Pha Đin.

Do nằm sâu trong đất liền nên nhiệt độ dao động mạnh trong ngày. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm đạt 9,50C- 10,50C ở vùng thấp dưới 1.000m và dao động trong khoảng 7- 9,50C ở vùng núi cao trên 1.000m. Mùa đông, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn, đạt tới 10-140C ở vùng thấp dưới 100m và đạt 8-100C ở vùng có độ cao trên 1.000m. Mùa mưa (tháng 6 – 9), trên địa phận toàn tỉnh, biên độ nhiệt ngày trung bình thường dao động trong khoảng 6- 80C.

Ở Điện Biên, lượng mưa dao động trong phạm vi khá rộng từ 1.400-2.500mm/năm. Khu vực Mường Mươn (thung lũng sông Nậm Mức) nằm trong thung lũng khuất gió có lượng mưa thấp nhất tỉnh, chỉ đạt khoảng 1.400mm/năm, thuộc chế độ mưa ít. Khu vực vùng núi cao phía Tây Bắc tỉnh, thuộc Mường Nhé có lượng mưa lớn nhất, đạt 2.000-2.500 mm/năm. Các khu vực còn lại có lượng mưa dao động trong khoảng 1.500-2.000mm/năm. Như vậy trên đại bộ phận lãnh thổ tỉnh Điện Biên có chế độ mưa vừa. 

Điện Biên có chế độ mưa mùa hè. Mùa mưa dài 6 tháng từ tháng 4 đến tháng 9; một số nơi như Mường Chà, Mường Nhé có mùa mưa ngắn hơn, dài 5 tháng (5 – 9), lượng mưa của mùa mưa chiếm khoảng 75- 92% lượng mưa năm. Ba tháng (6 – 8) có lượng mưa lớn nhất, đạt khoảng 270 – 520 mm/ tháng. Trong mùa mưa, lượng mưa ngày lớn nhất đạt hơn 100mm/ngày, thậm chí đạt trên 400mm/ngày. Vào thời kỳ này mưa kéo dài nhiều ngày rất dễ gây ngập úng ở nơi có địa hình thấp trũng, trên các sườn núi có thể xảy ra sạt lở đất, lũ quét, lũ bùn đá ở những nơi mất thảm thực vật và có địa hình bị phá vỡ.

Mùa khô dài 3- 5 tháng (11-3) với lượng mưa tháng chỉ đạt dưới 50 mm/ tháng, trong đó có 1-3 tháng hạn (lượng mưa < 25 mm/ tháng), tuy nhiên không có tháng kiệt (lượng mưa < 5 mm/ tháng). Đây là thời kỳ thiếu nước đối với cây trồng, nhất là 3 tháng hạn.

Độ ẩm trung bình năm đạt 81- 84%. Độ ẩm biến đổi theo mùa. Thời kỳ tháng 6 – 9 có độ ẩm tương đối trung bình cao nhất, đạt 84 – 87 %. Các tháng 2 – 4 có độ ẩm trung bình thấp nhất, khoảng 71- 80%.

Các hiện tượng thời tiết đặc biệt:

Gió khô nóng, sương mù – sương muối, dông lốc và mưa đá là những hiện tượng thời tiết đặc biệt có tần suất tương đối lớn, gây ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất, đời sống và sức khoẻ của con người.

Do ảnh hưởng của hiệu ứng “Phơn” đối với gió mùa Tây Nam sau khi vượt qua các dãy núi cao Thượng Lào, ở vùng thấp của tỉnh Điện Biên phổ biến kiểu thời tiết khô nóng. Ở vùng thấp dưới 500m, mỗi năm có khoảng 5 – 30 ngày/ năm, càng lên cao số ngày khô nóng càng ít, đến độ cao 500-700m chỉ có khoảng 2-5 ngày khô nóng/ năm. Thời tiết khô nóng thường xuất hiện vào thời kỳ tháng 2 đến tháng 9, nhiều nhất vào tháng 4-5.

Sương mù là hiện tượng thời tiết hay gặp ở Điện Biên, song phân bố không đều, phụ thuộc vào đặc điểm địa hình địa phương. Trong thung lũng lòng chảo Điện Biên, Tuần Giáo, đèo Pha Đin có rất nhiều sương mù, tới 83- 93 ngày/ năm. Song ở những vùng núi cao thoáng như Tủa Chùa chỉ có 2 ngày/ năm. Sương mù ở Điện Biên thường là sương mù bức xạ, sẽ tan nhanh khi mặt trời lên cao. Sương mù dày và kéo dài sẽ gây cản trở cho các hoạt động giao thông vận tải. Ngược lại với sương mù, sương muối hầu như năm nào cũng xuất hiện ở những vùng núi cao trên 1.000m (trên dưới 1 ngày/ năm), chỉ những vùng thấp dưới 300m mới không có sương muối.

Nằm trong vùng núi cao Tây Bắc, Điện Biên có tương đối nhiều dông. Trung bình mỗi năm có 44 – 82 cơn dông. Dông xuất hiện nhiều nhất vào tháng 4 – 8 với khoảng 6 -15 ngày/ tháng. Dông ở đây tuy không lớn nhưng có thể kèm gió mạnh, gió lốc và mưa đá vào thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hè. Trên khắp địa bàn tỉnh đều thấy mưa đá xuất hiện, với khoảng 0,6-1,7 trận/ năm. Mưa đá chủ yếu xuất hiện từ tháng 2- 5.

* Thuỷ văn:

Đặc điểm về thuỷ văn ở Điện Biên là hệ quả của điều kiện địa lý, khí hậu và địa hình. Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn là sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông. Trong đó riêng lưu vực sông Đà trên các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay có diện tích khoảng 5.300 km,2 chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. 

Sông Đà ở phía Bắc tỉnh, bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), qua Mường Tè (tỉnh Lai Châu) – Thị xã Mường Lay – Tuần Giáo rồi chảy về tỉnh Sơn La. Lưu vực sông Đà có dạng hình thuôn dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Do địa hình trên lưu vực sông Đà chủ yếu là núi cao, nên độ cao bình quân lưu vực là 965m, độ dốc bình quân lưu vực cũng khá lớn, đạt 36,8%. Các dãy núi chạy sát bờ sông đã khiến cho thung lũng sông Đà hẹp, có dạng hẻm vực, sông đang đào lòng mạnh. Trên sông có nhiều thác ghềnh, thậm chí đến tận khu vực hạ lưu vẫn xuất hiện thác. Các lưu vực của sông nhỏ, độ dốc bình quân lưu vực cũng như độ dốc lòng sông lớn, lại nằm trong khu vực có lượng mưa lớn và lớp thảm phủ thực vật bị tàn phá nặng nề chưa được phục hồi; điều đó dẫn tới mức độ tập trung nước nhanh, là tiền đề gây nên những trận lũ quét lớn, làm thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản. 

Phần lưu vực sông Đà thuộc địa phận tỉnh Điện Biên có 5 phụ lưu, đó là: lưu vực sông Nậm Mạ (dòng chính dài 63km); lưu vực sông Nậm Bum (dòng chính dài 36km); lưu vực sông Nậm Pô (dòng chính dài 103km); lưu vực sông Nậm Mức (dòng chính dài 86km); lưu vực sông Nậm Muôi (dòng chính dài 50 km). 

Lưu vực sông Mã nằm ở phía cực Tây và Tây Nam của khu Tây Bắc. Địa hình lưu vực sông Mã chủ yếu là núi xen lẫn cao nguyên, độ cao trung bình 760m chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Phần lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Điện Biên có các phụ lưu chính là: sông Nậm Khoai thuộc huyện Tuần Giáo (dòng chính dài 62, 5 km) và Sư Lư thuộc huyện Điện Biên Đông (dòng chính dài 39km).

Hệ thống sông Mê Kông trên địa phận tỉnh Điện Biên có 2 phụ lưu chính là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa. Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ phía Bắc huyện Điện Biên, qua thành phố Điện Biên Phủ, đến xã Pa Thơm (huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào. Các phụ lưu chính của Nậm Rốm là: Nậm Phăng, Nậm Khẩu Hú, Nậm Cọ. Sông Nậm Núa bắt nguồn từ độ cao 1.200m tại xã Mường Nhà, phía nam lòng chảo Điện Biên, phụ lưu lớn nhất của sông Nậm Núa là suối Nậm Ngám.

Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh Điện Biên là độ dốc lớn, lắm thác, nhiều ghềnh (nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm Rốm), có tiềm năng về thuỷ điện. Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ nên việc khai thác sử dụng khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn. Vì vậy cần có giải pháp hợp lý về công tác thuỷ lợi, kết hợp với tăng độ che phủ của rừng, nhất là rừng đầu nguồn để đảm bảo nguồn nước cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong tương lai.

5. Thổ nhưỡng và động thực vật

Đất đai tỉnh Điện Biên phong phú, đa dạng với nhiều quá trình hình thành khác nhau. Theo nguồn gốc phát sinh có thể chia thành 7 nhóm chính, đó là: Đất phù sa (12.622,13ha), đất đen vùng nhiệt đới (95,22 ha), đất đỏ vàng hay còn gọi là đất Feralit (629.806,26ha), đất mùn – vàng đỏ trên núi (291.818,08ha), đất mùn Alít trên núi cao (1.136,35 ha), đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (1.467,04 ha) và đất dốc tụ (1.460,64 ha).

Với trên 80% đất đai là đồi núi đã làm nổi bật vị trí quan trọng của nghề rừng trong phát triển kinh tế của tỉnh; có vai trò to lớn trong việc phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nước, phòng hạn và chống lũ lụt cho đồng bằng Bắc Bộ. Ven sông Đà, Nậm Pô, Nậm Lay, Sư Lư… có đất phù sa, nhưng tập trung lớn nhất là đất phù sa ven sông Nậm Rốm ở cánh đồng Mường Thanh. Đất đen được hình thành trên những sản phẩm phong hoá của đá măcma trung tính và sản phẩm phong hoá của đá vôi tích lại ở các thung đá vôi. Phân bố chủ yếu ở huyện Tủa Chùa, phía Tây huyện Tuần Giáo; ít và phân tán hơn ở huyện Mường Ảng. Đây là loại đất khá giầu kali, chất hữu cơ và can xi, khá tơi xốp và có độ phì nhiêu tự nhiên khá cao. Đất đen ở huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo thường hay gặp hạn hán vì nước mưa nhanh chóng bị thấm xuống các hang hốc nằm ngầm dưới đất. Các loại đất đồi núi của tỉnh phân bố trên 3 đai cao, đó là: Đai đất Fera lit phân bố ở độ cao dưới 900m; từ 900-1.800m phân bố nhóm đất mùn – vàng đỏ hoặc mùn – vàng xám (chủ yếu ở các khu vực Mường Nhé, Mường Lay, Mường Chà, Điện Biên); từ 1.800 – 2.800m là đai đất mùn Alit trên núi cao (chỉ phân bố ở vùng đỉnh núi cao biên giới Việt – Lào, Việt – Trung thuộc huyện Mường Nhé). Các loại đất này hầu hết phân bố trên các địa hình dốc hoặc rất dốc, chia cắt mạnh, dễ bị rửa trôi, chịu tác động mạnh của quá trình xói mòn. Đó là một trong những thách thức về môi trường cho cư dân địa phương trong các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp bền vững.

Đất đai để hoang hoá và chưa sử dụng còn nhiều. Hiện tại, toàn tỉnh còn 195.902,6 ha đất trống, đồi trọc chưa được khai thác, chiếm 20,39 % quỹ đất; trong đó đất bằng chưa sử dụng chiếm 760,3 ha, đất đồi núi chưa sử dụng 189.902,6 ha, núi đá không có rừng cây 4.342,2 ha. 

Tài nguyên đất của Điện Biên khá rộng về diện tích, phong phú và đa dạng về chủng loại. Chính sự phong phú này cho phép hoạch định phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng đa dạng tầng cây, đai rừng; đa dạng ngành nghề, đa dạng sản phẩm hàng hoá, kết hợp sản xuất nông – lâm nghiệp với phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó, sự phong phú về chủng loại đất còn tạo điều kiện cho Điện Biên đa dạng về thảm thực vật.

Rừng có nhiều loại gỗ quý (trai, nghiến, lim, lát, pơmu…), nhiều cây dược liệu (trầm hương, thiên niên kiện, sa nhân, đỗ trọng, hà thủ ô, tam thất…) cây ăn quả, cây lấy nhựa và động vật quí hiếm (hổ, báo, hươu, nai, gấu…). Tỷ lệ che phủ rừng Điện Biên tính đến năm 2008 chiếm 46% diện tích tự nhiên, nhưng chủ yếu là rừng nghèo, rừng đang được bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và rừng trồng chưa khép tán. Tuy nhiên, rừng có cây che phủ khai thác không nhiều, nạn đốt phá rừng làm nương rẫy, hiện tượng cháy rừng vẫn xảy ra.

Thanh Bình

Từ khóa tìm kiếm

  • gi?i ??c ?i?n Bi?n
Chia sẻ bài viết: