Điện Biên – Lịch sử hình thành

0

Đây là những loạt bài viết được trích trong cuốn "Điện Biên – 100 năm xây dựng và phát triển" do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2009. Lai Châu ngày xưa, Điện Biên ngày nay là địa bàn có con người đến cư trú từ rất sớm

Tại các di chỉ khảo cổ học ở hang Thẩm Púa, Thẩm Khương (xã Chiềng Sinh) thuộc huyện Tuần Giáo; Nậm Phé, Nậm Tun thuộc huyện Phong Thổ đã tìm thấy các công cụ bằng đá, qua thẩm định cho biết đồ đá này thuộc thời đại đá mới, với những đặc trưng của văn hoá Hoà Bình, mang phong cách khu vực Tây Bắc. Ngoài ra, còn tìm thấy những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại Hùng Vương như: Trống đồng Mường Đăng (huyện Tuần Giáo), trồng đồng Mường Thanh, trống đồng Na Ngum (huyện Điện Biên), trống đồng Chiềng Nưa (huyện Mường Lay), trống đồng Mường So (huyện Phong Thổ). 

dien bien dat va nguoi Điện Biên   Lịch sử hình thành

Thời Hùng Vương, nước Văn Lang được chia làm 15 bộ, Điện Biên thuộc bộ Tân Hưng, sau đó thuộc tỉnh Hưng Hoá. Theo sách Đại nam nhất thống chí “Đất tỉnh Hưng Hoá thời Hùng Vương thuộc bộ Tân Hưng. Thời thuộc Đường là đất châu Lâm Tây (thuộc Phong Châu tổng quản). Đời Lý là đất Đăng Châu. Đời Trần là đạo Đà Giang, sau đổi là trấn. Năm Quang Thái 10 (1397) đổi thành trấn Thiên Hưng. Thời thuộc Minh đổi đặt làm hai châu: Gia Hưng và Quy Hoá. Đầu đời Lê Thái Tổ là hai lộ Gia Hưng và Quy Hoá, đặt thuộc Tây đạo. Năm Quang Thuận 10 (1469) đời Lê Thánh Tông định bản đồ trong cả nước, đặt thừa tuyên Hưng Hoá (sau gọi là xứ), gồm 3 phủ, 4 huyện, 16 châu (Phủ Gia Hưng: Huyện Thanh Xuyên và 10 châu: Sơn La, Tuân Giáo, Thuận, Mai, Việt, Ninh Biên, Mộc, Đà Bắc, Phù Hoa, Mai Sơn. Phủ Quy Hoá có 3 huyện: Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập và 2 châu: Thuỷ Vĩ, Văn Bàn. Phủ Yên Tây có 4 châu: Chiêu Tấn, Luân, Quỳnh Nhai, Lai). Năm Minh Mệnh 12 (1831) cắt huyện Tam Nông trước thuộc Sơn Tây nhập vào Hưng Hoá, đổi gọi là tỉnh Hưng Hoá”. 

Theo sách Đồng khánh dư địa chí “Toàn tỉnh Hưng Hoá có 4 phủ, 6 huyện, 16 châu. Điện Biên là một trong 4 phủ của tỉnh Hưng Hoá.

Phủ Điện Biên được thành lập năm Thiệu Trị 1 (1841), nguyên là đất thuộc hai phủ Gia Hưng và Yên Tây. Năm Thiệu Trị 1 (1841) tách 2 châu Ninh Biên, Tuân Giáo của phủ Gia Hưng và Lai Châu của phủ Yên Tây để thành lập phủ Điện Biên. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) và thứ 5 (1852) lại tách thêm châu Quỳnh Nhai và Luân Châu (trước cũng của phủ Yên Tây) sang phủ Điện Biên. Khoảng cuối Tự Đức đầu Đồng Khánh lại tách Thuận Châu từ phủ Gia Hưng nhập vào phủ Điện Biên. Phủ lỵ được đặt tại xã Noong Hẹt, tổng Phong Thanh, châu Ninh Biên. Xung quanh đắp thành đất, chu vi 510 trượng, cao 1 trượng 5 thước, dày 1 trượng. Ngoài thành trồng rào gai, có hào rộng 2 trượng, sâu 6 thước, mở 2 cửa trước, sau. Bốn góc thành đều có 1 lán đặt súng. Phủ Điện Biên phía Đông giáp hạt Thuận Châu, phía Tây giáp nước Nam Chưởng (Lào), phía Nam giáp huyện Trình Cố tỉnh Thanh Hoá, phía Bắc giáp châu Quảng Lăng nước Thanh (Trung Quốc).

Phủ kiêm lý 1 châu: Ninh Biên, thống hạt 5 châu: Tuân Giáo, Luân Châu, Lai Châu, Quỳnh Nhai, Thuận Châu. 

– Tổng Tiên Phong có 6 xã: Tiên Phong, Bình Đôn, Phương Ma, Tú Ba, Mãnh Gia, Hiền Liêu.

* Châu Tuân Giáo do phủ Điện Biên thống hạt. Châu lỵ ở xã Quy Mộ, tổng Phụ Yên. Phía Đông giáp Thuận Châu, phía Tây giáp châu Ninh Biên, phía Nam giáp Thuận Châu, phía Bắc giáp Luân Châu. Châu có 1 tổng: Phụ Yên và 3 xã: Phụ Yên, Quy Mộ, Xuân Dương.

* Luân Châu do châu Tuân Giáo của phủ Điện Biên kiêm nhiếp. Phía Đông giáp châu Quỳnh Nhai, phía Tây giáp châu Ninh Biên, phía Nam giáp châu Tuân Giáo, phía Bắc giáp Lai Châu. Châu có 1 tổng: Văn Bảng và 3 xã: Văn Bảng, Đôn Đức, Côn Luân.

* Lai Châu do phủ Điện Biên thống hạt. Châu lỵ được đặt tại xã Hoài Lai. Phía Đông giáp Luân Châu, phía Tây giáp nước Nam Chưởng (Lào), phía Nam giáp châu Ninh Biên, phía Bắc giáp châu Quảng Lăng nước Thanh (Trung Quốc). Châu có 1 tổng: Hoài Lai và 1 xã: Hoài Lai.

* Châu Quỳnh Nhai do phủ Điện Biên thống hạt. Châu lỵ được đặt ở xã Yên Trạch. Phía Đông giáp huyện Văn Chấn, phía Tây giáp Luân Châu, phía Nam giáp Thuận Châu, phia Bắc giáp Luân Châu. Châu có 4 xã (chưa đặt tổng): Dương Di, Yên Trạch, Ngọc Thiển, Yên Trịnh.

* Thuận Châu do phủ Điện Biên thống hạt. Châu lỵ đặt tại xã Xuân Mai. Phía Đông giáp châu Sơn La, phía Tây giáp châu Tuân Giáo, phía Nam giáp châu Mai Sơn, phía Bắc giáp châu Quỳnh Nhai. Châu có 5 xã (chưa đặt tổng): Nam Trịnh, Trịnh Bắc, Khinh Khoái, Xuân Mai, Thanh Bình”.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ chúng đã đặt kế hoạch đánh chiếm tỉnh Hưng Hoá. Tháng 4-1884, quân Pháp từ Bắc Ninh do các tướng Brie Đờ Lin và Nêgriê chỉ huy chia làm hai mũi đánh chiếm tỉnh Hưng Hoá. Theo Tổng mệnh lệnh số 4 ngày 11-6-1885 của Đờcuốcxy (Decorcy) tỉnh Hưng Hoá nằm trong Quân khu miền Tây, thuộc phạm vi Lữ đoàn 1 phụ trách, tiếp đó nằm trong Đạo quan binh Sơn La (còn gọi đạo quan binh thứ tư) theo Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 20-8-1891. Ngày 27-2-1892, Toàn quyền Đông dương ra Nghị định chia Đạo quan binh Sơn La thành: 

– Tiểu quân khu Vạn Bú bao gồm: Phủ Vạn Yên (châu Mộc, châu Phù Yên), phủ Sơn La (châu Sơn La, châu Yên, châu Mai Sơn, châu Thuận, châu Tuần Giáo, châu Điện Biên).

– Tiểu quân khu phụ Lai Châu gồm: Châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai và Phong Thổ.

Ngày 10-10-1895, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định xoá bỏ Tiểu quân khu Vạn Bú và Tiểu quân khu phụ Lai Châu, lập tỉnh Vạn Bú đặt dưới quyền một phái viên Chính phủ bảo hộ bao gồm toàn bộ đất đai của Đạo quan binh Sơn La. 

Ngày 1-3-1903 Phủ toàn quyền Đông Dương ra quyết định thành lập Trung tâm hành chính Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Vạn Bú.

Ngày 7-4-1904, theo đề nghị của Thống sứ Bắc kỳ, được Hội đồng bảo hộ chấp nhận, được sự đồng ý của Hội đồng tối cao Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chuyển trụ sở hành chính của Phái bộ Chính phủ từ Vạn Bú đến Sơn La. Sơn La trở thành lỵ sở của tỉnh Vạn Bú.

Ngày 23-8-1904, tỉnh Vạn Bú được đổi tên thành tỉnh Sơn La.

Ngày 28-6-1909, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách các châu: Quỳnh Nhai, Điện Biên, Tuần Giáo, Châu Lai, Luân Châu của tỉnh Sơn La để thành lập tỉnh Lai Châu. Từ đó tỉnh dân sự Lai Châu chính thức đi vào hoạt động cùng với các tỉnh khác trong cả nước.

Sau 7 năm hoạt động dưới chế độ dân sự, ngày 27-3-1916, thực dân Pháp lại thành lập Đạo quan binh thứ 4 Lai Châu theo chế độ quân quản gồm: Châu Lai, châu Quỳnh Nhai, Sở Đại lý và châu Điện Biên; các khu biên giới phía bắc gồm: Mường Tè, Mường Nhé, Mường Bum (Mường Tè), Mao Xà Phình (Sình Hồ). Sở Đại lý và châu Điện Biên có hai tổng: Tuần Giáo và Sốp Cộp.

Ngày 6-7-1931, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cho phép thành lập hai khu mới ở Đạo quan binh thứ 4 Lai Châu là: châu Mao Xà Phình (Sình Hồ) và châu Mường Tè.

Ngày 30-6-1934, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Sở Đại lý Mường Tè bao gồm 3 khu vực: Mường Tè, Mường Nhé, Mường Bum.

Các đơn vị hành chính trên tồn tại đến hết thời kỳ Pháp thuộc. Trong thời kỳ dài thống trị Lai Châu, thực dân Pháp đều đặt Lai Châu dưới chế độ quân quản, chỉ có một thời gian ngắn (7 năm) chúng áp dụng chế độ cai trị hành chính. Đến ngày 4-9-1943, chế độ quân quản ở Lai Châu bị bãi bỏ hoàn toàn.

Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã nổ ra trong cả nước, là một tỉnh miền núi xa xôi hẻo lánh, bị cách biệt với miền xuôi bởi giao thông đi lại rất khó khăn, lại bị chế độ thực dân phong kiến kìm hãm nên ảnh hưởng của cách mạng, của Đảng đến với đồng bào các dân tộc ở đây chưa nhiều. Tỉnh Lai Châu chỉ có một châu duy nhất giành được chính quyền đó là Quỳnh Nhai, các châu khác vẫn bị bọn thực dân và phong kiến chiếm giữ.

Từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến nay địa phương có một số thay đổi như sau:

Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Việt Bắc có 3 khu: 1, 10, 12. Đến tháng 7-1947 thành lập thêm khu 14. Ngày 20-1-1948 Trung ương quyết định 4 khu của Việt Bắc sáp nhập thành hai liên khu: Liên khu I (gồm khu 1 và khu 12) và Liên khu X (gồm khu 10 và khu 14). Lai Châu do Liên khu X quản lý.

Tháng 3-1948, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên tỉnh Lai Châu và Sơn La (Sơn – Lai) được thành lập.

Ngày 29-9-1949, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 28 NQ/TW thống nhất Liên khu I và Liên khu X thành Liên khu Việt Bắc. Lai Châu do Liên khu Việt Bắc quản lý.

Ngày 12-1-1952, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 145 TTg tách tỉnh Sơn – Lai thành hai tỉnh Lai Châu và Sơn La.

Tháng 7-1952, Trung ương Đảng quyết định tách một số tỉnh trong Liên khu Việt Bắc để lập khu Tây Bắc gồm: Yên Bái, Lào Kai, Sơn La, Lai Châu. Khu uỷ Tây Bắc cũng ra quyết định chuyển huyện Thuận Châu từ tỉnh Sơn La sang tỉnh Lai Châu.

Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Lai Châu được giải phóng, hoà bình được lập lại trên miền Bắc nước ta.

Ngày 29-4-1955, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành Sắc lệnh số 230 SL về thành lập Khu tự trị Thái – Mèo, các châu (huyện trước đây) trực thuộc Khu, không có cấp hành chính tỉnh.

Ngày 18-10-1955, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Nghị định số 606 TTg về thành lập châu Tủa Chùa trực thuộc Khu tự trị Thái – Mèo trên cơ sở tách ra từ châu Mường Lay.

Ngày 27-10-1962, tại kỳ họp thứ V Quốc hội khoá II đã ra Nghị quyết đổi tên Khu tự trị Thái – Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc và thành lập lại 2 tỉnh trong Khu là: Lai Châu, Sơn La và một tỉnh mới Nghĩa Lộ. Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Lay, Phong Thổ, Sình Hồ và thị trấn Lai Châu.

Ngày 8-10-1971, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 189 CP về thành lập Thị xã Lai Châu.

Ngày 18-4-1992, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 130/QĐ-HĐBT về thành lập Thị xã Điện Biên Phủ trên cơ sở thị trấn huyện Điện Biên và hai xã Thanh Minh và Noong Bua..

Ngày 7-10-1995, Chính phủ ra Nghị định số 59/NĐ-CP về thành lập huyện Điện Biên Đông trên cơ sở tách ra từ huyện Điện Biên. 

Ngày 14-1-2002, Chính phủ ra Nghị định về thành lập huyện Tam Đường trên cơ sở tách ra từ huyện Phong Thổ.

Ngày 14-1-2002, Chính phủ ra Nghị định số 08/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, huyện Mường Lay để thành lập huyện Mường Nhé. 

Ngày 26-9-2003, Chính phủ ra Nghị định số 110/2003/NĐ-CP về thành lập Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu.

Trước khi chia tách tỉnh Lai Châu thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, tỉnh Lai Châu (cũ) có 11 huyện, thị và thành phố gồm: Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Tè, Mường Nhé, Phong Thổ, Tam Đường, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Sìn Hồ, thị xã Lai Châu và thành phố Điện Biên Phủ.

Ngày 26-11-2003, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có Lai Châu. Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên. Ngày 1-1-2004 hai tỉnh chính thức đi vào hoạt động. Sau khi chia tách tỉnh Điện Biên có 8 huyện, thị, thành phố: Điện Biên, Điện Biên Đông, Tuần Giáo, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Lay, thị xã Lai Châu và thành phố Điện Biên Phủ. 

Ngày 14-11-2006, Chính phủ ra Nghị định số 135/2006/NĐ-CP về thành lập huyện Mường Ảng trên cơ sở tách ra từ huyện Tuần Giáo. 

Hiện nay, tỉnh Điện Biên có 9 huyện, thị và thành phố gồm: Tuần Giáo, Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Ảng, Thị xã Mường Lay, Thành phố Điện Biên Phủ. Tỉnh lỵ được đặt tại thành phố Điện Biên Phủ.

Một quá trình dài với những thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi, nhưng địa danh Lai Châu – Điện Biên vẫn mãi trường tồn với lịch sử dân tộc và đất nước.

Thanh Bình

Chia sẻ bài viết: