Ngày xuân, bàn về Bảo tồn văn hóa truyền thống

0

Điện Biên nói riêng và Tây Bắc nói chung là một vùng văn hóa, điều đó thì ai cũng biết. Vùng văn hóa ấy của Tây Bắc nói chung và Điện Biên nói riêng đã và đang mai một nhiều những chân giá trị, điều này cũng rất nhiều người biết. Và rồi, biết nhưng làm gì và làm thế nào thì dường như chúng ta đang mắc. Hơn nữa, với không ít địa phương, ngành hữu quan và cá nhân người có trách nhiệm, có vẻ như mới thiên về tinh thần, tình cảm và sự hô hào lấy lệ, chứ việc hành động thì chưa xứng tầm và nói chung chưa thật tối ưu…

Bảo vệ, bảo tồn bằng cách chi tiền phục dựng lễ hội này, hoạt động văn hóa kia… vấn đề quả là không ai phản đối được. Tuy nhiên, như người ta vẫn nói, sau những động tác đơn lẻ và nhất thời dành cho cái gọi là “bảo vệ và bảo tồn” thì sao? Muốn hay không, vấn đề “bảo vệ và bảo tồn”, suy cho cùng, chỉ là phương tiện. Cái quan trọng với vai trò, mục đích tối thượng, đó là duy trì và phát huy, làm cho các lễ hội ấy, các phong tục, tập quán ấy diễn ra hàng ngày trong đời sống bình dân, chứ không chỉ trong các chương trình phục dựng khô cứng theo một “kịch bản” dập khuôn, máy móc.

bao ton van hoa truyen thong Ngày xuân, bàn về Bảo tồn văn hóa truyền thống

Tôi mới đi thực tế thị xã Mường Lay gần một tuần. Cũng như mọi người, cảm nhận của tôi đó là một thị xã đẹp, thậm chí rất đẹp, trên bến dưới thuyền. Các khách sạn, công sở, cầu cống, trung tâm thương mại… đã và đang mọc lên thật hoành tráng. Tuy nhiên, ít nhất cho đến lúc này, đó là một vùng dân cư không có thư viện, không có công viên, không có nhà văn hóa, không có khu luyện tập thể dục thể thao… Tóm lại, đó là một thị xã không có không gian văn hóa, không có các thiết chế văn hóa, không có các công trình văn hóa. Vậy thì, câu hỏi đặt ra là “bảo vệ và bảo tồn” văn hóa bằng cách nào đây? Hay lại vài năm một lần tổ chức trình diễn trang phục dân tộc bằng vải ngoại nhập, thỉnh thoảng lại tổ chức thi ẩm thực, hát múa rồi sau đó mọi chuyện đâu về chỗ đấy?

Chúng ta đang sống trong thời đại bang giao và hội nhập, tất thảy mọi cái cả tốt lẫn xấu đều có thể lĩnh hội, tùy theo nhận thức và bản năng tự vệ của mỗi người. Về lý thuyết, ai cũng biết rằng cái gì tốt thì học, cái gì xấu không học. Song, vấn đề là nhận thức thế nào đây để xác định được cái gì là tốt và cái gì không tốt, như thế nào là tốt và như thế nào thì không tốt? Lại nhớ một câu chuyện lịch sử cách đây 223 năm: Mùa xuân Kỷ Dậu (1789) từ Phú Xuân (Huế), vua Quang Trung kéo quân ra đánh giặc Thanh ở kinh thành Thăng Long. Trước khi đại binh lên đường, để nung nấu quyết tâm của binh sỹ, nhà vua thảo một bài biểu trong đó có đoạn: “Đánh cho để dài tóc // Đánh cho để đen răng…”.

Lời dụ ấy thể hiện rõ mục đích đồng thời của cuộc chinh phạt, nhằm bảo vệ hai tập quán văn hóa của dân tộc Việt Nam mà vốn dĩ người Tàu không có, đó là tục để tóc dài và nhuộm răng đen. Rõ ràng Quang Trung không chỉ có tài cầm quân đánh giặc, mà còn quan tâm tới việc giữ gìn vốn văn hóa dân tộc, ngay trong lúc dầu sôi lửa bỏng như thế. Hèn chi mà sử cũ chép rằng sau khi thắng trận, nhà vua đem về Huế không phải trân châu bạch ngọc trong số chiến lợi phẩm, mà là một cành bích đào Nhật Tân để tặng Ngọc Hân công chúa.

Lâu nay, thực tế cho thấy là trong thời buổi kinh tế thị trường và sự giao lưu, hợp tác đa phương, không ít dân tộc đã và đang đứng trước nguy cơ mai một bản sắc văn hoá truyền thống của mình. Hệ quả nhiều thuần phong mỹ tục, văn nghệ dân gian, lễ hội, trang phục, nếp sống… đang bị biến dạng, lai căng, pha tạp một cách xô bồ và sống sượng. Tài liệu cổ mất bao nhiêu công kiểm kê, sưu tầm nhưng không có người dịch và cuối cùng, chẳng biết có được cất giữ cẩn thận hay lại một lần nữa “thất lạc”(?). Nơi các bản làng xa xôi và nghèo khó, số người biết các mẫu tự cổ và cả loại chữ đã được “la tinh hoá”, đang ngày một ít dần theo năm tháng. Tại Hội Văn nghệ Điện Biên, có tình trạng “xuất bản miệng” thì hăng hái phải biết, nhưng bằng giấy trắng mực đen thì không thể. Trong số 164 hội viên chính thức, không dưới một nửa vào Hội cho vui, xem Hội Văn nghệ có khác gì hội chơi chim cảnh hay hội đồng hương không? Buồn làm sao, mùa hỗ trợ sáng tạo mới rồi (12/2011), có chuyên ngành “đốt đuốc đi tìm” mà không được một tác phẩm nào. Nguyên nhân do hầu hết các hội viên không có năng lực để đảm đương công việc mà mình được… kỳ vọng nhầm!

Vài thập kỷ lại đây, khái niệm “di sản văn hoá” được mở rộng ngữ nghĩa nội hàm, “là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hoặc của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những biểu hiện lối sống và các quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân. Chính văn hoá đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”.

Với tinh thần ấy, thành Tam Vạn, động Pa Thơm, hang Mường Tỉnh của Điện Biên đã được Bộ Văn hoá – Thể thao & Du lịch ra quyết định công nhận xếp hạng di tích – danh thắng quốc gia. Như chúng tôi từng đề cập, trong hệ thống hang động ở Điện Biên ngoài Pa Thơm còn rất nhiều hang động chưa được biết đến. Hàng ngày đi trên quốc lộ 279 từ thị trấn Mường ảng ra thị trấn Tuần Giáo, qua các xã Xuân Lao, Búng Lao, Chiềng Sinh… ta thấy những vách đá dựng đứng lưng trời và quả là hùng vĩ thật. Rất nhiều những hang động với tầng tầng nhũ rủ, rêu phong thâm u, có hang sâu hun hút và hình như hàng năm trời không có dấu chân người ngoài những cánh dơi. Cũng tại khu vực này, qua bản Bó vào khoảng 1,5km có một cái hang mà dân địa phương gọi là Thẳm Púa. Theo tiếng Thái: Thẳm nghĩa là “hang”, Púa nghĩa là “mối”, vì từ cửa hang vào có những khối đá hình thù giống như tổ mối được đùn lên từ dưới đất.

Như vậy, Thẳm Púa là tên gọi tượng hình, phù hợp với tư duy hình tượng của nhân dân miền núi. Lịch sử còn ghi, tại hang Thẩm Púa ngày 14/01/1954, mệnh lệnh “Đánh nhanh thắng nhanh” được Võ Đại tướng phổ biến bên cạnh một sa bàn lớn. Không chỉ có giá trị như một di sản văn hoá thiên nhiên, mà Thẩm Púa còn là một di sản về lịch sử đương đại. Song thật tiếc đến giờ phút này, chúng ta mới làm được duy nhất tấm biển chỉ đường vào hang Thẩm Púa. Cá nhân tôi thiển nghĩ, nếu được đầu tư phục dựng cảnh cán bộ ta làm việc và sinh hoạt như hồi kháng chiến, đương nhiên hang Thẩm Púa sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn trong “tua” du lịch Tuần Giáo – Mường Phăng – Điện Biên; là điểm lý tưởng để ta phát huy hiệu quả của loại hình du lịch cộng đồng.

Còn vô vàn điều muốn nói trong một bài báo ngắn, về khát vọng bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống các dân tộc Điện Biên. Giữa mênh mông những vấn đề, ai là người thực sự có năng lực, ai là người tâm huyết và ai là người chỉ làm cho văn hóa nghèo đi, với tôi, xin lỗi là tôi có thể gọi tên ra được. Tiếc rằng, không phải bao giờ và ở đâu, những trở trăn, hoài niệm cũng được chia sẻ, cổ vũ và động viên. Ngược lại…

Thành Bình

Chia sẻ bài viết: