Người Điện Biên có quyền tự hào lắm!

0

Sáng ngày 23/12/2012, tại xã ít Ong, huyện Mường La (tỉnh Sơn La) có một sự kiện để lại dấu ấn sâu sắc với không chỉ người dân các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, mà còn là niềm vui to lớn của hơn tám mươi triệu người dân nước Việt. Và đó, là Lễ khánh thánh Nhà máy Thủy điện Sơn La – công trình Thủy điện lớn nhất Đông Nam Á.

Trong diễn văn trang trọng, lãnh đạo Trung ương có biểu dương nỗ lực, tinh thần lao động khẩn trương của tập thể cán bộ, công nhân viên; sự đồng lòng của nhân dân ba tỉnh Điện Biên, Sơn La và Lai Châu. Nhưng tôi vẫn cảm thấy thiêu thiếu một điều gì thật vô hình mà không thể kể việc gọi tên. Đó phải không là nỗi khó nhọc, niềm khát khao mong ngóng bao tháng ngày của người dân các vùng chuyển cư; hay là điều gì mà tôi chẳng thể định hình như là sự hy sinh và niềm tự hào, kiêu hãnh…

Đại công trình nhiều kỷ lục nhất…

Với công suất lắp đặt 2.400MW gồm 6 tổ máy, công trình Thủy điện Sơn La là nhà máy có công suất lớn nhất trên thượng lưu sông Đà và lớn nhất khu vực Đông Nam á. Nhà máy Thủy điện Sơn La được kỳ vọng là công trình sẽ đem lại hiệu quả cao về mọi mặt đối với ba tỉnh vùng Tây Bắc và sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Và điều ấy thì không phải hôm nay, hôm qua hay nhiều hôm trước, mà suốt 7 năm qua, kể từ ngày dự án xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La chính thức được khởi công ngăn sông đợt I (ngày 02/12/2005) thì người người, ngành ngành đã tỏ tường thông tin và đợi mong một lễ khánh thành. Bởi đó là công trình được kỳ vọng góp phần quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

nguoi dien bien tu hao Người Điện Biên có quyền tự hào lắm!

Nhưng tại lễ khánh thành nhà máy, nhiều người đã ngạc nhiên đến sững sờ khi biết thêm những kỷ lục của đại công trình này. Trước nhất phải kể đến là công trình có khối lượng công việc thi công nhiều nhất. Với diện tích lưu vực 43.760km2, lòng hồ Thủy điện Sơn La bao phủ một số xã của các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Để thi công nhà máy, nhà thầu đã phải đào đắp 14.673 triệu mét khối đất đá các loại; khối lượng bê tông các loại là 4.920 triệu mét khối. Ngoài ra, Thủy điện Sơn La cũng là công trình có nhiều thiết bị quan trắc nhất bao quanh thân đập chính để đảm bảo an toàn cho công trình.

Thêm điều bất ngờ thú vị ở công trình có khối lượng công việc thi công nhiều nhất này lại chính là yếu tố thời gian. Lẽ thường, khối lượng công việc sẽ quyết định thời gian, nhưng ở đây – công trình Thủy điện Sơn La thì khác. Tinh thần làm việc không mệt mỏi, ý thức trách nhiệm của những người được giao đảm nhiệm thi công công trình đã rút ngắn thời gian thi công, để nhà máy đi vào hoạt động trước cả nghìn ngày (3 năm). Theo Nghị quyết của Quốc hội, nhà máy Thủy điện Sơn La sẽ phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012, hoàn thành toàn bộ nhà máy vào năm 2015, nhưng như điều vừa đề cập ở trên, tiến độ thi công nhà máy “cán đích” trước dự kiến chẵn 3 năm tròn. “Cán đích” sớm, nhà máy Thủy điện Sơn La đã cung cấp sớm cho nền kinh tế quốc dân 12,5 tỷ kWh điện năng, làm lợi cho Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì giá trị kinh tế mà nhà máy Thủy điện Sơn La đem lại không chỉ được coi là “cứu cánh” cho nền kinh tế, mà đó còn có thể được coi là niềm tự hào của người Việt Nam với tầm nhìn đi trước đón đầu.

Từ thời điểm chặn dòng, đóng cửa đập tích nước, hồ tích nước nhà máy Thủy điện Sơn La đã “xóa sổ” mạn thượng nguồn của dòng sông Đà. Hàng vạn hộ dân quanh hồ thuộc ba tỉnh Tây Bắc có cơ hội chuyển đổi ngành nghề, di chuyển tái định cư với cuộc sống mới tốt hơn nơi ở trước. Tính toán là thế chứ thực tiễn thì có trải qua những năm tháng “ở đợi sống chờ” của người dân phải di dời nhường đất cho dự án, chúng ta mới phần nào thấm thía nỗi nhọc nhằn và cảm phục sự hy sinh!

…và âm thầm những sự hy sinh

Theo Quyết định số 801/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La, tổng số hộ dân phải di chuyển là 20.260 hộ với 95.733 nhân khẩu. Trong đó, tỉnh Sơn La có nhiều số dân phải di chuyển nhất là 61.509 khẩu ở 12.500 hộ; tiếp đến là tỉnh Điện Biên với 17.805 khẩu ở 4.436 hộ và tỉnh Lai Châu có 16.419 khẩu ở 3.324 hộ.

Nhìn vào con số ấy, hẳn chúng ta dễ dàng nhận thấy thêm một kỷ lục ở đại công trình này. Khởi công sau Thủy điện Hòa Bình, trước Thủy điện Lai Châu, nhưng Thủy điện Sơn La có số người phải di dời nhiều nhất. Không biết công tác di dân tái định cư ở hai tỉnh Sơn La, Lai Châu có khó khăn gì, chứ với Điện Biên, khó nhiều bề lắm. Để chuẩn bị cho thực hiện dự án, tháng 6/2002, 75 hộ với 346 khẩu đồng bào dân tộc Thái đã chuyển từ Chăn Nưa về làng tái định cư mẫu Si Pa Phìn, mở màn cho cuộc chuyển dân lịch sử với quy mô lớn nhất nước ta từ trước đến nay. Như thế, cũng có nghĩa việc di dời dân tái định cư dự án Thủy điện Sơn La của tỉnh Điện Biên còn bắt đầu trước cả thời điểm dự án xây dựng nhà máy được khởi công. Sau đó, tiếp đến năm 2006 là cuộc di chuyển của hơn 40 hộ dân tộc Thái bản Nậm Cản, phường Na Lay, thị xã Mường Lay được coi như đợt tập dượt thứ hai để rút kinh nghiệm cho ngàn hộ sau nữa. Vậy mà đến tận tháng 5/2010, công tác di dân tái định cư Thủy điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên mới chính thức hoàn thành.

Trong những năm thực hiện di chuyển ấy, chính quyền các cấp tỉnh Điện Biên không phân biệt cấp trên cấp dưới, không rạch ròi chức năng sở này ngành kia mà giữa họ có chung một tinh thần “tái định cư”. Tôi còn nhớ như in những tháng ngày sôi sục vì tái định cư trong các năm 2009 và 2010 ấy. Ban đầu thì 3 tháng một lần UBND tỉnh tổ chức giao ban, triển khai công tác tái định cư tại TX. Mường Lay, sau dày hơn là tháng một lần và giai đoạn nước rút thì đích thân đồng chí Phó Chủ tịch Hoàng Văn Nhân phải cầm quân điều hành trực tiếp tại thị xã ngã ba sông. Lo tái định cư cho dân, đồng chí lãnh đạo ấy đã không thể quên những ngày quên ăn quên ngủ; những khi dầm mình dưới mưa để chỉ đạo giúp dân chuyển nhà. Và theo chỉ đạo, bằng mọi giá phải chuyển dân trước ngày nước lên, Đảng bộ, chính quyền, cán bộ chiến sỹ các lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân các dân tộc Điện Biên đã sống trong những tháng ngày chung việc tái định cư, vì cuộc sống của người dân vùng lòng hồ, vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc mến thương!

Và điều không thể không nhắc đến ấy chính là tấm lòng, sự hy sinh của mỗi người dân vùng tái định cư. Khó khăn nhiều lắm nhưng nếu không sống cùng người dân các vùng di chuyển ở Mường Lay, Tủa Chùa, Mường Chà thì mấy ai trong chúng ta có thể hình dung nổi khó khăn khi di chuyển là như thế nào. Đâu chỉ là tháo, là dỡ, là dựng là xây, mà còn cả ngổn ngang nỗi niềm. Trên khu tái định cư Nậm Cản, có nhiều hộ sống trong cảnh “ở tạm sống chờ” đến 4 năm và chục lần di chuyển nhưng vẫn thuận lòng đợi tái định cư. Hay như mấy chục hộ ở xã Huổi Só, huyện Tủa Chùa phải lênh đênh mấy chục cây số đường sông và hơn ba trăm cây số đường bộ để đến khu tái định cư mới Nậm San (huyện Mường Nhé), nhưng họ vẫn vững lòng trên sông nước nổi trôi. Có cả nữa những cụ già ở bản Đớ đã nén tiếng thở dài trong căn nhà chuẩn bị chuyển cư như nuốt nỗi buồn vào tâm cho riêng mình, để rồi sớm hôm sau, các cụ vẫn hối thúc con cháu chuyển nhà vì dòng điện ngày mai… Kể sao hết những gian nan khó nhọc, điểm sao hết những tâm sự chất chứa trong lòng kẻ ở người đi, nhưng tôi biết có một điểm chung giữa những nỗi niềm đi ở ấy, là sự hy sinh âm thầm không dễ gọi thành tên… Và hôm nay, được tận mắt chứng kiến dòng điện từ nhà máy Thủy điện Sơn La hòa lưới điện quốc gia, đem ánh sáng đến khắp muôn nhà, người Điện Biên đã có nụ cười tự tin lắm!

Thuỷ điện Sơn La không có “bức thư gửi lại thế hệ sau” như Thuỷ điện Hoà Bình. Tuy nhiên, ý nguyện của những người thợ điện ở Thuỷ điện Sơn La sẽ lưu truyền mãi mãi. Đó là tâm sự, là niềm tin, là thứ ánh sáng phát ra không từ dòng điện mà từ dòng máu của những người hơn 7 năm trời chung lưng đấu cật, viết nên trang sử chói lọi nhất của ngành điện Việt Nam!

Thanh Bình

Chia sẻ bài viết: